Lớp 11

Bình giảng bốn câu cuối bài Tương tư – Nguyễn Bính

Đề bài: 

Bình giảng bốn câu cuối bài Tương tư – Nguyễn Bính

Bốn câu cuối bài thơ Tương tư, tác giả Nguyễn Bính như cuối cùng cũng thốt ra nỗi câu hỏi cất giấu trong lòng. Bốn câu thơ cuối cũng thường được chú ý hơn cả và được đi vào nhiều chủ đề của bài thơ Tương tư. Vì vậy mà tuyển tập Văn mẫu 11 của THPT Lê Thánh Tôn cũng tổng hợp đầy đủ các nội dung phục vụ để học sinh có thể làm được bài bình giảng đoạn cuối bài Tương tư – Nguyễn Bính hay nhất.

Bạn đang xem: Bình giảng bốn câu cuối bài Tương tư – Nguyễn Bính

Tham khảo thêm:

Soạn bài Tương tư – Nguyễn Bính

Bình giảng bốn câu cuối bài Tương tư - Nguyễn Bính
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

    Cau thôn Đoài, nhớ giầu không thôn nào?”

Gợi ý thêm cho các bạn bài mẫu bình giảng bài thơ Tương tư – Nguyễn Bính để có cái nhìn sâu sắc và toàn cảnh hơn về tình yêu đôi lứa, những tình cảm ngọt ngào dành cho nhau qua đó có thể viết bài được hay hơn.

Bài bình giảng bốn câu cuối bài Tương tư mẫu 1

Đó là thơ Nguyễn Bính. Nhà thơ tự học mà thành tài. Hoài Thanh, trong “Thi nhân Việt Nam” cho biết, Nguyễn Bính vào tuổi 20 đã làm gần một ngàn bài thơ. Nguyễn Bính sử dụng nhiều loại thơ, điệu thơ, nhưng thành công nhất là thơ lục bát ở những bài thơ ấy, “ta bỗng thấy vườn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta”, ta cảm thấy một điều đáng quý báu vô ngần, đó là “hồn xưa của đất nước”.

Những bài thơ tình của Nguyễn Bính có một giọng điệu riêng, đẹp như ca dao, mang tính cách ca dao… Nhiều câu thơ đoạn thơ cứ thấm vào hồn ta mãi:

“Nhà em có một giàn giầu

Nhà anh có một hàng cau liên phòng

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài, nhớ giầu không thôn nào?”

Đoạn thơ trên đây trích trong bài thơ “Tương tư”, rút trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang” (1940) của thi sĩ Nguyễn Bính. Bài thơ gồm 20 câu lục bát; 16 câu đầu nói về nỗi buồn nhớ tương tư, trách móc tủi hờn: “Có xa xôi mấy mà tinh xa xôi?”… Bốn câu cuối nói lên niềm mong ước của chàng trai đa tình về một tình yêu hạnh phúc với một thiếu nữ khác thôn chung làng.

Cấu trúc song hành đối xứng, bốn câu thơ liên kết thành hai cặp, gắn bó với nhau rất hồn nhiên, tự nhiên như duyên trời đã định giữa nhà em và nhà tôi, giữa em và anh, giữa thôn Đoài với thôn Đông, giữa cau với giầu vậy. Giọng thơ thì thầm ngọt ngào như một lời cầu mong, ao ước khao khát. Từ chỗ gọi “nàng”: “Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” đã chuyển thành tiếng “em” gần gũi, thân thiết yêu thương: “Nhà em có một giàn giầu …” biện pháp nghệ thuật được sử dụng ở đây là cách xưng hô từ “tôi” – “nàng” dẫn đến “em” — “anh” thân thiết hơn, phong tình và yêu thương hơn.

Giầu (trầu) với cau đã cố kết bền đẹp từ ngàn xưa, nên bây giờ mói có sự tương giao tương hợp như một thiên duyên đẹp kì lạ:

“Nhà em có một giàn giầu

Nhà anh có một hàng cau liên phòng”

Điệp ngữ “nhà … có một” làm cho ý thơ vang lên khẳng định về một sự sóng đôi tồn tại. Tuy rằng “hai thôn chung lại một làng” chẳng xa xôi mấy, nhưng “giàn giầu” nhà em và “hàng cau liên phòng” của nhà anh vẫn còn ở về hai phía không gian. Nhà em và “hàng cau liên phòng” của nhà anh vẫn còn ở về hai phía không gian. Nhà em và nhà anh mới chỉ “có một” chưa chưa có đôi. Chữ một trong 2 câu thơ rất ý vị, nó đã nói lên ước mong về hạnh phúc lứa đôi duyên giầu – cau cũng là duyên lứa đôi bền chặt, sắt son, thủy chung.

Trong bài “Tương tư”, Nguyễn Bính sử dụng nhiều câu hỏi tu từ để diễn tả nỗi buồn tương tư “gỡ mãi chẳng ra”

– Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

– Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?

– Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?

– Bao giờ bến mới gặp đò?

Và khép lai bài thơ, chàng trai tự hỏi mình trong mơ ước và hi vọng:

“Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài, nhớ giầu không thôn nào?”

Cả một thời thương nhớ, đâu chỉ tôi nhớ nàng, anh nhớ em, mà còn có biện pháp tu từ “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông”. Cảnh vật cũng dan díu nhớ mong: “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?” Một lối nói bỏ lửng, rất tế nhị, duyên dáng, đậm đà. Anh tự hỏi mình, và cùng thổ lộ cùng em. Câu hỏi tu từ với cấu trúc bỏ lửng đã thể hiện một tình yêu chân thành về một mơ ước hạnh phúc tốt đẹp. Ước mơ ấy thật nhân văn.

Đoạn thơ cho thấy vẻ đẹp riêng trong thơ tình của Nguyễn Bính. Tác giả vận dụng sáng tạo chất liệu văn học dân gian như giầu – cau, thôn Đoài – thôn Đông, câu thơ lục bát giàu vần điệu nhạc điệu để nói lên nỗi khao khát tình yêu hạnh phúc của lứa đôi. Một tình yêu đằm thắm, chân quê. “Tương tư” thấm vào nỗi buồn, nhưng đoạn kết đã mở ra một chân trời hi vọng.

Bài bình giảng bốn câu cuối bài Tương tư mẫu 2

“Nắng mưa là bệnh của giời – Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”… Đó là thơ Nguyễn Bính. Nhà thơ tự học mà thành tài. Hoài Thanh, trong “Thi nhân Việt Nam” cho biết, Nguyễn Bính vào tuổi hai mươi đã làm gần một nghìn bài thơ. Nguyễn Bính sử dụng nhiều thể thơ, điệu thơ, nhưng thành công nhất là thơ lục bát. Ở những bài thơ ấy, “ta bỗng thấy vườn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta”, ta cảm thấy một điều đáng quý báu vô ngần, đó là “hồn xưa của đất nước”.

Những bài thơ tình của Nguyễn Bính có một giọng điệu riêng, đẹp như ca dao, mang tính cách ca dao… Nhiều câu thơ đoạn thơ với các biện pháp tu từ trong bài Tương tư cứ thấm vào hồn ta mãi:

“Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.”

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”.

Đoạn thơ trên đây trích trong bài thơ “Tương tư”, rút trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang” (1940) của thi sĩ Nguyễn Bính. Bài thơ gồm có 20 câu lục bát; 16 câu đầu nói về nỗi buồn nhớ tương tư, trách móc tủi hờn: “Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?”… Bốn câu cuối nói lên niềm mong ước của chàng trai đa tình về một tình yêu hạnh phúc với một thiếu nữ khác thôn chung làng.

Cấu trúc song hành đối xứng, bốn câu thơ liên kết thành hai cặp, gắn bó với nhau rất hồn nhiên,tự nhiên như duyên trời đã định giữa nhà em và nhà anh, giữa em và anh, giữa thôn Đoài với thôn Đông, giữa cau với giầu vậy. Giọng thơ thì thầm ngọt ngào như một lời cầu mong, ước ao khao khát. Từ chỗ gọi “nàng”: “Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” đã chuyển thành một tiếng “em” gần gũi, thân thiết yêu thương: “Nhà em có một giàn giầu..”. Cách xưng hô từ “tôi” – “nàng” dẫn đến “em” – “anh” thân thiết hơn, phong tình và yêu thương hơn.

Giầu với cau đã có kết bền đẹp từ ngàn xưa, nên bây giờ mới có sự tương giao tương hợp như một thiên duyên đẹp kì lạ:

“Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.”

Điệp ngữ “nhà… có một” làm cho ý thơ vang lên khẳng định về một sự sóng đôi tồn tại. Tuy rằng “hai thôn chung lại một làng”, chẳng xa xôi mấy, nhưng “giàn giầu” nhà em và “hàng cau liên phòng” của nhà anh vẫn còn ở về hai phía không gian. Nhà em và nhà anh mới chỉ “có một” chứ chưa có đôi. Chữ một trong hai câu thơ rất ý vị, nó đã nói lên ước mong vể hạnh phúc lứa đôi: duyên giầu – cau cũng là duyên lứa đôi bền chặt, sắt son, thủy chung.

Trong bài “Tương tư”, Nguyễn Bính sử dụng nhiều câu hỏi tu từ để diễn tả nỗi buồn tương tư “gỡ mãi chẳng ra”:

– Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

–    Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?

–    Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?

–    Bao giờ bến mới gặp đò?

Và khép lại bài thơ, chàng trai tự hỏi mình trong mơ ước và hi vọng:

“Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”

Cả một trời thương nhớ, đâu chỉ tôi nhớ nàng, anh nhớ em, mà còn có “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông”. Cảnh vật cũng dan díu nhớ mong: “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”. Một lối nói bỏ lửng, rất tế nhị, duyên dáng, đậm đà. Anh tự hỏi mình, và cũng là thổ lộ cùng em. Câu hỏi tu từ với cấu trúc bỏ lửng đã thể hiện một tình yêu chân thành về một ước mơ hạnh phúc tốt đẹp. Ước mơ ấy thật nhân văn.

Đoạn thơ cho thấy vẻ đẹp riêng trong thơ tình của Nguyễn Bính. Tác giả đã vận dụng sáng tạo các chất liệu văn học dân gian như giầu – cau, thôn Đoài — thôn Đông, câu thơ lục bát giàu ỵần điệu nhạc điệu để nói lên nỗi khát khao tình yêu hạnh phúc của lứa đôi. Một tình yêu đằm thắm, chân quê. “Tương tư” thấm một nỗi buồn, nhưng đoạn kết đã mở ra một chân trời hi vọng…

—–

Đề bài Bình giảng bốn câu cuối bài Tương tư – Nguyễn Bính được THPT Lê Thánh Tôn tổng hợp những bài văn mẫu hay nhất, hi vọng các em sẽ có những bài văn bình giảng thật hay, ý nghĩa và thấm được những tâm trạng của tác giả trong Tương tư.

Bình giảng 4 câu cuối bài Tương tư của Nguyễn Bính để thấy được hết những nỗi niềm của tác giả miên man, rồi gói gọn lại trong nội dung đoạn cuối bài Tương tư

Đăng bởi: THPT Lê Thánh Tôn

Chuyên mục: Lớp 11

THPT Lê Thánh Tôn

@ Trường THPT Văn Hiến đã trải qua hơn 20 năm phát triển với rất nhiều thế hệ học sinh thành đạt và luôn là một trong những trường THPT top đầu của khối ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button