Lớp 11

Soạn bài Tương tư (Nguyễn Bính)

Tài liệu hướng dẫn soạn bài Tương tư (Nguyễn Bính) giúp các em tìm hiểu và tiếp thu dễ dàng hơn nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, hỗ trợ cho quá trình tự học của các em đạt kết quả tốt hơn.

Với những hướng dẫn chi tiết trả lời câu hỏi sách giáo khoa dưới đây các em không chỉ soạn bài tốt mà còn nắm vững các kiến thức quan trọng của tác phẩm này.

Bài thơ Tương tư – Nguyễn Bính

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành.
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…

Bạn đang xem: Soạn bài Tương tư (Nguyễn Bính)

Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!
Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

Hoàng Mai, 1939

    Cùng tham khảo…

Soan van 11 bai Tuong tu

Soạn bài Tương tư về Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả Nguyễn Bính

– Nguyễn Bính (1918 – 1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

– Mồ côi mẹ rất sớm, 10 tuổi đã phải theo anh lên Hà Nội kiếm sống.

– Ông biết làm thơ từ khi mới 13 tuổi và năm 19 tuổi (1937) được nhận giải Khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn.

– Năm 1943, ông vào Nam rồi ở lại tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp.

– Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, tham gia công tác văn nghệ và báo chí ở Hà Nội, Nam Định.

– Thơ Nguyễn Bính với lối ví von mộc mạc mà duyên dáng mang phong vị dân gian đã đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quê hương đất nước và tình người đằm thắm, thiết tha.

– Năm 2000, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

– Những tác phẩm tiêu biểu:

+ Trước Cách mạng: Tâm hồn tôi (1937), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân (1941), Mười hai bến nước (1942), Cây đàn tì bà (truyện thơ – 1944),…

+ Sau Cách mạng: Ông lão mài gươm (1947), Gửi người vợ miền Nam (1955), Tiếng trống đêm xuân (truyện thơ – 1958), Đêm sao sáng (1962); Cô Son (chèo – 1961), Người lái đò sông Vị (chèo – 1962),…

2. Bài thơ Tương tư

– Bài Tương tư rút trong tập Lỡ bước sang ngang, rất tiêu biểu cho phong cách thơ “chân quê” của Nguyễn Bính.

Nội dung chính: Bài thơ Tương tư viết về một tình yêu trong sáng, đơn phương và mạnh mẽ. Hồn quê Việt thấm đượm trong từng dòng thơ, thể hiện tình cảm chân thành của nhà thơ đối với những nét đẹp văn hóa dân gian.

– Bố cục

Bố cục bài thơ Tương tư được chia thành 3 phần:

+ Phần 1 (4 câu đầu): Khởi nguồn cho tâm trạng tương tư

+ Phần 2 (12 câu tiếp theo): Tỏ bày tâm tư tương tư

+ Phần 3 (còn lại): Khao khát hạnh phúc muôn đời của tình yêu đôi lứa.

Ngoài ra các em học sinh có thể tham khảo thêm phần các đề đọc hiểu bài Tương tư – Nguyễn Bính để nắm bắt thêm kiến thức chi tiết cho từng câu thơ, từng đoạn thơ.

Soạn bài Tương tư siêu ngắn

Gợi ý trả lời câu hỏi hướng dẫn đọc thêm soạn văn Tương tư ngắn nhất trang 50 SGK Ngữ văn lớp 11 tập 2.

Câu 1 (SGK Ngữ văn 11 tập 2 trang 50)

Nỗi nhớ và những lời kể, trách móc của chàng trai:

– “chín nhớ mười mong”: niềm nhớ mong tha thiết

– Niềm nhớ mong như bao trùm, lan tỏa khắp không gian: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”

– Chàng trai kể lể, trách móc, dỗi hờn “cớ sao bên ấy chưa sang bên này?” để bộc lộ nỗi niềm tương tư của mình mà không được đáp lại

– Tâm trạng mong ngóng, trông đợi, mòn mỏi, từ tương tư chuyển sang chờ đợi

– Những ước vọng xa xôi được bộc lộ, đó là niềm khát khao cho hạnh phúc lứa đôi

– Nỗi mong nhớ kéo dài tới cuối bài thơ nhưng không được đền đáp để tâm trạng nhân vật trữ tình bộc lộ tha thiết, sâu sắc.

⇒ Chàng trai có tình cảm, tương tư nhưng chưa được đáp lại.

Câu 2 (SGK Ngữ văn 11 tập 2 trang 50)

Cách bày tỏ tình yêu, giọng điệu thơ, cách so sánh, ví von,… ở bài này có những điểm đáng lưu ý:

– Cách bày tỏ tình yêu của nhân vật trữ tình kín đáo, ý nhị và có ý vị chân thành mộc mạc của chàng trai quê.

– Ngôn ngữ thơ dung dị hồn nhiên, dân dã nhưng vẫn pha chất lãng mạn mộng mơ.

– Sử dụng hệ thống ẩn dụ – hoán dụ – ước lệ một cách đặc sắc và sáng tạo.

– Hình ảnh ví von, chất liệu ngôn từ chân quê, đậm màu sắc dân gian: thôn Đoài – thôn Đông, bến – đò, hoa – bướm, trầu – cau,…→ quan niệm, ước mong về một tình yêu gắn bó, chung thủy.

– Giọng điệu nhẹ nhàng, chân thành, tha thiết.

Câu 3 (SGK Ngữ văn 11 tập 2 trang 50)

Qua việc phân tích bài Tương tư, chứng minh trong thơ Nguyễn Bính có “hồn xưa của đất nước”:

– Ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi, mang đậm cách biểu đạt và bày tỏ bóng gió, xa xôi trong tình yêu của người dân quê Bắc Bộ Việt Nam.

– Tình cảm, cảm xúc chân thành, tế nhị, kín đáo.

– Thể loại thơ dân tộc: lục bát.

– Hình ảnh mộc mạc, đậm chất làng Việt: thôn Đoài, thôn Đông, trầu, cau.

– Lối so sánh, ví von và cách bày tỏ tình cảm đậm đà phong vị ca dao dân ca.

Soạn bài Tương tư hay nhất

Gợi ý trả lời câu hỏi hướng dẫn đọc thêm soạn Tương tư chi tiết trang 50 SGK Ngữ văn lớp 11 tập 2.

Bài 1 trang 50 SGK Ngữ văn 11 tập 2

Anh (chị) cảm nhận như thế nào về nỗi nhớ mong và những lời kể lể, trách móc của chàng trai trong bài thơ ? Tình cảm của chàng trai đã được đền đáp hay chưa ?

Trả lời:

Con người lãng mạn trong bài Tương tư đã thao thức “chín nhớ mười mong” người thương ròng rã suốt “mấy đêm rồi”, mong nhớ hết ngày này đến ngày khác, thậm chí hết tháng này qua tháng khác: “Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng“…

Theo đạo lí quân tử “tu, tề, trị, bình” Nho gia, nhất là Tống Nho, thì kẻ nam nhi như thế là hỏng quá… Nhưng sức cuốn hút của thơ tình Nguyễn Bính chủ yếu không phải do thái độ thành thực giãi bày nỗi niềm “chín nhớ mười mong” hay do sự cãi lí cho tính phù hợp quy luật của tình yêu nam nữ, đang biện hộ cho đạo lí nhân văn (không ít nhà thơ lãng mạn đương thời bộc lộ tình cảm yêu đương nhiều khi còn đắm đuối hơn (Ao ước – Tế Hanh), tinh tế hơn (Ngậm ngùi – Huy Cận) hoặc não lòng hơn: “Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ – Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ – Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá – Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ” (Trăng – Xuân Diệu), mà sức cuốn hút ấy chủ yếu là bởi những rung động của trái tim thi sĩ (thể hiện trong cấu tứ cũng như ở giọng điệu) dung hợp rất nhuần nhuyễn tính cách dân tộc.

Nỗi nhớ da diết của nhân vật trữ tình trải suốt bài thơ nhưng đến tận cuối bài nỗi nhớ mong ấy vẫn chưa được đền đáp. Chính bởi thế mà nó đã tạo được ra cái cớ để cho dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc lộ một cách tha thiết và sâu sắc.

Bài 2 trang 50 SGK Ngữ văn 11 tập 2

Theo anh (chị) cách bày tỏ tình yêu, giọng điệu thơ, cách so sánh, ví von,… ở bài này có những điểm gì đáng lưu ý ?

Trả lời:

Nét chủ yếu của tính cách dân tộc trong bài Tương tư chính là khuynh hướng cấu tứ khái quát mang ý nghĩa về độ: “chín nhớ mười mong” dài theo ngày tháng, dẫu biệt vô âm tín vẫn tiếp tục đợi chờ: “Bao giờ bến mới gặp đò“, với niềm hi vọng xa vời.

    “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”…; và chỉ đến mức ấy thôi, chứ không phải kiểu phản ứng quyết liệt. “Rồi anh chết, anh chết sầu chết héo – Linh hồn anh thất theo dõi hồn em… ” như chàng lãng mạn trong bài Ao ước của Tế Hanh – ý tứ cực đoan này phải chăng chỉ phù hợp với tâm lí một số độc giả thành thị.

Khi soạn bài Tương tư, em thấy phong cách cấu tứ thơ tình yêu với các mức độ tình cảm phù hợp dân tộc tính như vậy đã xuất hiện trong hầu hết những bài thơ khác của Nguyễn Bính. Những nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính (người thật việc thật hoặc hư cấu, khách thể hoặc chủ thể) dẫu có lâm vào trạng huống yêu đơn phương, tình tuyệt vọng… đều ứng xử có chừng mực: một chàng trai bị người yêu thờ ơ, chỉ than thở: “Tình tôi mở giữa mùa thu – Tình em lẳng lặng kín như buồng tằm” (Đêm cuối cùng); một cô gái bị lỗi hẹn cũng nhẫn nại đợi chờ: “Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày – Bao giờ em mới gặp anh đây” (Mưa xuân); anh lái đò kia thất tình phẫn chí định bỏ nghề, nhưng rồi lại thôi: “Lang thang anh dạm bán thuyền – Có người trả chín quan tiền lại thôi” (Anh lái đò); một chàng thất tình khác oán hờn mà chẳng nặng lời: “Em đã sang ngang với một người – Anh còn trồng cải nữa hay thôi? – Đêm qua mơ thấy hai con bướm – Khép cánh tình chung ở giữa trời” (Hết bướm vàng); đau đớn hơn: người yêu yểu mệnh, nhưng nỗi đau ấy đã hòa tan cùng mộng ảo: “Đêm qua nàng đã chết rồi – Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng –  Hồn trinh còn ở trần gian – Nhập vào bướm trắng mà sang bên này” (Người hàng xóm)…; và trước thái độ quá thờ ơ của cô gái hái mơ, khách đa tình cũng chỉ trách móc mơ màng:

Cô hái mơ ơi, cô gái ơi

Chả trả lời nhau lấy một lời

Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng

Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi…

(Cô hái mơ)

Đặc điểm dân gian, dân tộc ấy trong cấu tứ khiến những bài thơ tình Nguyễn Bính, trước và sau 1945 dễ dàng tìm được sự đồng cảm và tiếp đón hào hứng của một số lượng độc giả lớn (thành phố và tỉnh nhỏ, thành thị và nông thôn,…) mà có lẽ chưa nhà thơ lãng mạn nào đạt được.

Bài 3 trang 50 SGK Ngữ văn 11 tập 2

Hoài Thanh cho rằng trong thơ Nguyễn Bính có “hồn xưa đất nước”. Qua bài Tương tư, anh (chị) có đồng ý với nhận xét đó không? Vì sao ?

Trả lời:

Lời nhận định của Hoài Thanh rằng trong thơ Nguyễn Bính có “hồn xưa đất nước” rất đúng với bài Tương tư. Nhà thơ này yêu thôn quê một cách kì lạ, cái tình yêu ấy làm cho thơ ông, ở những câu bình dị nhất, vẫn có sức lôi cuốn, vẫn có cái duyên xao động lòng người:

Báo rằng cách trở đò ngang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…

Dưới mắt ông, những cảnh sắc thông thường ở thôn quê cũng rất gợi cảm, đâu chỉ ánh trăng mới đẹp, mà cảnh mưa phùn gió bấc, hoa xoan, đường lầy hay nắng lửa trưa hè vẫn cứ làm ta xúc động, nhớ thương. Đó là tài năng của ông. Giọng ông vừa cất lên, người ta đã nhận ngay ra hình bóng quê hương làng mạc. Cách ăn nói nghĩ ngợi của bà con làng xóm đã thấm vào Nguyễn Bính. Nhiều khi không hẳn là nghĩa chữ, ý câu mà chỉ bằng cái giọng nói, cái cách nói, Nguyễn Bính đã gửi gắm, giao hoà tâm hồn chúng ta vào trong hồn của quê hương dân dã.

Trên đây là nội dung chi tiết hướng dẫn soạn văn 11 bài Tương tư của Nguyễn Bính đã được Đọc Tài Liệu biên soạn giúp các em tham khảo và chuẩn bị bài tốt hơn trước khi đến lớp. Để hiểu sâu và nhớ lâu hơn, các em nên kết hợp tự soạn bài theo những kiến thức của bản thân. Chúc các em luôn đạt kết quả cao trong học tập.

[ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Tương tư một cách tốt nhất. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cố” – Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

Hướng dẫn soạn bài Tương tư của Nguyễn Bính, gợi ý trả lời câu hỏi hướng dẫn đọc thêm trang 49, 50 sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 tập 2.

Đăng bởi: THPT Lê Thánh Tôn

Chuyên mục: Lớp 11

THPT Lê Thánh Tôn

@ Trường THPT Văn Hiến đã trải qua hơn 20 năm phát triển với rất nhiều thế hệ học sinh thành đạt và luôn là một trong những trường THPT top đầu của khối ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button